Rivacryst 20mg Abbott 1 vỉ x 14 viên (Rivaroxaban)

* Hình sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian
** Giá sản phẩm có thể thay đổi tuỳ thời điểm

30 ngày trả hàng Xem thêm

 Các sản phẩm được đóng gói và bảo quản an toàn.

#31672
Rivacryst 20mg Abbott 1 vỉ x 14 viên (Rivaroxaban)
5.0/5

Số đăng ký: 858110959324

Cách tra cứu số đăng ký thuốc được cấp phép

Tìm thuốc Rivaroxaban khác

Tìm thuốc cùng thương hiệu Abbott khác

Thuốc này được bán theo đơn của bác sĩ

Gửi đơn thuốc
Nhà sản xuất

Saneca Pharmaceuticals A.S

NSX

 Giao nhanh thuốc trong 2H nội thành HCM

Bạn muốn nhận hàng trước 4h hôm nay. Đặt hàng trong 55p tới và chọn giao hàng 2H ở bước thanh toán. Xem chi tiết

Tất cả sản phẩm thay thế

Chỉ dành cho mục đích thông tin. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào.

Xem tất cả sản phẩm thay thế

Thông tin sản phẩm

Số đăng ký: 858110959324
Hoạt chất:
Quy cách đóng gói:
Thương hiệu:
Xuất xứ:
Thuốc cần kê toa:
Dạng bào chế:
Hàm Lượng:
Nhà sản xuất:
Tiêu chuẩn:

Nội dung sản phẩm

Thành phần

  • Rivaroxaban: 20mg

Công dụng (Chỉ định)

Rivacryst 20mg được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

Người lớn:

  • Phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân ở bệnh nhân người lớn bị rung nhĩ không do bệnh lý van tim với một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ như suy tim sung huyết, tăng huyết áp, tuổi ≥ 75, đái tháo đường, tiền đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua.
  • Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE), và phòng ngừa tái phát DVT và PE ở người lớn (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc đối với bệnh nhân PE không ổn định về huyết động).

Trẻ em:

  • Điều trị huyết khối tĩnh mạch (VTE) và ngăn ngừa tái phát VTE ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi và cân nặng trên 50kg sau ít nhất 5 ngày kể từ ngày khởi đầu điều trị thuốc chống đông máu qua đường tiêm.

Liều dùng

Phòng ngừa đột quy và thuyên tắc mạch toàn thân ở người lớn:

  • Liều khuyến cáo là 20 mg một lần mỗi ngày, đây cũng là liều tối đa được khuyến cáo.
  • Liệu pháp điều trị với rivaroxaban nên được thực hiện trong thời gian dài với lợi ích dự phòng đột quy và thuyên tắc mạch toàn thân vượt trội so với nguy cơ chảy máu.
  • Nếu bỏ lỡ một liều, bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức và tiếp tục vào ngày hôm sau với liều lượng một lần mỗi ngày theo khuyến cáo. Không được tăng liều gấp đôi trong cùng ngày để bù cho liều đã quên.

Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE), phòng ngừa tái phát DVT và PE ở người lớn:

  • Liều khuyến cáo để khởi đầu điều trị DVT hoặc PE cấp tính là 15 mg x 2 lần/ngày trong ba tuần đầu, tiếp theo là 20 mg x 1 lần/ngày để điều trị duy trì và phòng ngừa DVT và PE tái phát.
  • Thời gian điều trị ngắn (ít nhất 3 tháng) nên được xem xét ở những bệnh nhân DVT hoặc PE gây ra bởi các yếu tố nguy cơ thoáng qua nghiêm trọng (tức là phẫu thuật lớn hoặc chấn thương nghiêm trọng gần đây). Thời gian điều trị dài hơn nên được xem xét ở những bệnh nhân có DVT hoặc PE có nguyên nhân không liên quan đến các yếu tố nguy cơ thoáng qua nghiêm trọng, DVT hoặc PE không nguyên nhân, hoặc có tiền sử DVT hoặc PE tái phát.
  • Khi có chỉ định kéo dài phòng ngừa DVT và PE tái phát (sau khi hoàn thành liệu pháp điều trị DVT hoặc PE ít nhất 6 tháng), liều khuyến cáo là 10 mg x 1 lần/ngày. Cân nhắc sử dụng liều rivaroxaban 20 mg x 1 lần/ngày trên những bệnh nhân có nguy cơ DVT hoặc PE tái phát được coi là cao, chẳng hạn như những người có bệnh kèm theo phức tạp, hoặc những người đã tái phát DVT hoặc PE với liều dự phòng kéo dài rivaroxaban 10 mg x 1 lần/ngày.

Thời gian điều trị và lựa chọn liều nên được cá nhân hóa sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích điều trị so với nguy cơ chảy máu.

Khoảng thời gian Lịch dùng thuốc Tổng liều hàng ngày
Điều trị và phòng ngừa DVT và PE tái phát Ngày 1 - 21 15 mg × 2 lần/ngày 30 mg
Ngày 22 trở đi 20 mg × 1 lần/ngày 20 mg
Phòng ngừa DVT và PE tái phát Sau khi hoàn thành liệu pháp ít nhất 6 tháng đối với DVT hoặc PE 10 mg × 1 lần/ngày hoặc 20 mg × 1 lần/ngày 10 mg hoặc 20 mg

Nếu bỏ lỡ một liều trong giai đoạn điều trị 15 mg x 2 lần/ngày (ngày 1 - 21), bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức để đảm bảo đủ 30 mg rivaroxaban mỗi ngày. Trong trường hợp này có thể uống hai viên 15 mg cùng một lúc. Bệnh nhân nên tiếp tục với liều 15 mg x 2 lần/ngày như khuyến cáo vào ngày hôm sau.

Nếu bỏ lỡ một liều trong giai đoạn điều trị một lần mỗi ngày, bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức, và tiếp tục vào ngày hôm sau với lượng một lần mỗi ngày như khuyến cáo. Không được tăng liều gấp đôi trong cùng ngày để bù cho liều đã quên.

Điều trị huyết khối tĩnh mạch (VTE) và dự phòng tái phát VTE ở trẻ em và thanh thiếu niên:

  • Điều trị rivaroxaban ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi nên được bắt đầu sau ít nhất 5 ngày kể từ ngày khởi đầu điều trị thuốc chống đông máu qua đường tiêm.

Liều dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên được tính dựa trên trọng lượng cơ thể.

  • Trọng lượng cơ thể từ 30 đến 50 kg: Khuyến cáo dùng liều rivaroxaban 15 mg một lần mỗi ngày. Đây là liều tối đa hàng ngày.
  • Trọng lượng cơ thể từ 50 kg trở lên: Khuyến cáo dùng liều rivaroxaban 20 mg một lần mỗi ngày. Đây là liều tối đa hàng ngày.
  • Cần thường xuyên theo dõi cân nặng của trẻ và xem xét liều. Điều này để đảm bảo duy trì liều điều trị. Việc điều chỉnh liều chỉ nên được thực hiện dựa trên sự thay đổi trọng lượng của cơ thể.
  • Thời gian điều trị cần được duy trì trong ít nhất 3 tháng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Thời gian điều trị có thể kéo dài đến 12 tháng khi cần thiết về mặt lâm sàng. Không có dữ liệu có sẵn ở trẻ em ủng hộ việc giảm liều sau 6 tháng điều trị. Nên đánh giá lợi ích - nguy cơ của việc tiếp tục điều trị sau 3 tháng dựa trên cơ sở từng cá nhân, có tính đến nguy cơ tái phát huyết khối so với nguy cơ chảy máu tiềm ẩn.
  • Nếu bỏ lỡ một liều trong giai đoạn điều trị một lần mỗi ngày, bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức, và tiếp tục vào ngày hôm sau với lượng một lần mỗi ngày như khuyến cáo. Không được tăng liều gấp đôi trong cùng ngày để bù cho liều đã quên.

Chuyển từ Thuốc đối kháng vitamin K (VKA) sang rivaroxaban:

  • Đối với bệnh nhân được điều trị để phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân:
  • Nên ngừng điều trị VKA và bắt đầu điều trị bằng rivaroxaban khi tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR- International Normalised Ratio) ≤ 3,0.

Đối với điều trị DVT, PE và phòng ngừa tái phát ở người lớn và với điều trị VTE và phòng ngừa tái phát ở bệnh nhân nhi:

  • Nên ngừng điều trị VKA và bắt đầu điều trị bằng rivaroxaban khi INR ≤ 2,5.
  • Khi chuyển bệnh nhân từ VKA sang rivaroxaban, giá trị INR sẽ tăng giả sau khi uống rivaroxaban. INR không có giá trị để đo hoạt tính chống đông máu của rivaroxaban, do đó không nên sử dụng.

Chuyển từ rivaroxaban sang Thuốc đối kháng Vitamin K (VKA):

  • Có khả năng xảy ra tình trạng chống đông không đủ trong quá trình chuyển từ rivaroxaban sang VKA. Cần đảm bảo chống đông đủ liên tục trong quá trình chuyển sang thuốc chống đông thay thế. Cần lưu ý rằng rivaroxaban có thể góp phần làm tăng INR.
  • Ở những bệnh nhân chuyển từ rivaroxaban sang VKA, nên sử dụng đồng thời VKA cho đến khi INR ≥ 2,0. Trong hai ngày đầu tiên của giai đoạn chuyển đổi, nên sử dụng liều tiêu chuẩn ban đầu của VKA, sau đó là liều VKA điều chỉnh theo kết quả INR. Trong khi bệnh nhân đang sử dụng cả rivaroxaban và VKA, INR không nên được kiểm tra sớm hơn 24 giờ sau liều dùng trước và trước khi dùng liều rivaroxaban tiếp theo. Sau khi ngừng sử dụng rivaroxaban, xét nghiệm INR có thể được thực hiện một cách đáng tin cậy ít nhất 24 giờ sau liều cuối cùng.
  • Bệnh nhân nhi: Trẻ em khi chuyển từ rivaroxaban sang VKA cần tiếp tục sử dụng rivaroxaban trong 48 giờ sau liều VKA đầu tiên. 2 ngày sau khi dùng kết hợp cả rivaroxaban và VKA, cần đánh giá INR trước khi tiếp tục liều VKA tiếp theo theo kế hoạch. Việc dùng kết hợp rivaroxaban và VKA nên được tiếp tục đến khi INR ≥ 2,0. Sau khi dừng rivaroxaban, kiểm tra INR sau liều cuối cùng sử dụng.

Chuyển từ thuốc chống đông máu đường tiêm sang rivaroxaban:

  • Đối với những bệnh nhân hiện đang dùng thuốc chống đông máu đường tiêm, hãy ngừng thuốc chống đông đường tiêm và bắt đầu dùng rivaroxaban 0 đến 2 giờ trước thời điểm dùng thuốc theo lịch tiếp theo (đối với heparin trọng lượng phân tử thấp) hoặc tại thời điểm ngừng sử dụng sản phẩm thuốc chống đông đường tiêm dùng liên tục (đối với heparin không phân đoạn tiêm tĩnh mạch).

Chuyển từ rivaroxaban sang thuốc chống đông máu đường tiêm:

  • Dùng liều đầu tiên của thuốc chống đông máu đường tiêm vào thời điểm uống liều rivaroxaban tiếp theo.

Nhóm bệnh nhận đặc biệt:

Người suy thận:

Người lớn:

  • Dữ liệu lâm sàng hạn chế trên bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút) chỉ ra rằng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương tăng lên đáng kể. Do đó, rivaroxaban phải được sử dụng thận trọng cho những bệnh nhân này. Không khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 15 ml/phút.

Trường hợp suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin 30 - 49 ml/phút) hoặc suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút), áp dụng khuyến nghị về liều lượng sau đây:

  • Để phòng ngừa đột quỵ và tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim, liều khuyến cáo là 15 mg x 1 lần/ngày.
  • Để điều trị DVT, điều trị PE và phòng ngừa tái phát DVT và PE: bệnh nhân nên được điều trị với liều 15 mg x 2 lần/ngày trong 3 tuần đầu. Sau đó, khi liều khuyến nghị là 20 mg x 1 lần/ngày, nên xem xét giảm liều từ 20 mg x 1 lần/ngày xuống liều 15 mg x 1 lần/ngày nếu đánh giá nguy cơ chảy máu cao hơn nguy cơ tái phát DVT và PE. Khuyến cáo sử dụng liều 15 mg x 1 lần/ngày dựa trên mô hình dược động học và chưa được nghiên cứu trong bối cảnh lâm sàng này.
  • Khi liều khuyến cáo là 10 mg x 1 lần/ngày, không cần điều chỉnh liều so với liều khuyến cáo.
  • Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 - 80 ml/phút).

Bệnh nhân nhi:

  • Trẻ em và thanh thiếu niên suy thận nhẹ (tốc độ lọc cầu thận 50 - 80 ml/phút/1,73 m2): Không cần điều chỉnh liều, dựa trên dữ liệu ở người lớn và dữ liệu hạn chế ở bệnh nhi.
  • Trẻ em và thanh thiếu niên bị suy thận vừa hoặc nặng (tốc độ lọc cầu thận < 50 ml/phút/1,73 m2): Rivaroxaban không được khuyến cáo vì không có dữ liệu lâm sàng.

Suy gan:

  • Rivaroxaban được chống chỉ định ở những bệnh nhân bị bệnh gan liên quan đến rối loạn đông máu và nguy cơ chảy máu liên quan về mặt lâm sàng bao gồm các bệnh nhân xơ gan Child Pugh B và C.
  • Không có dữ liệu lâm sàng ở trẻ em bị suy gan.

Người lớn tuổi:

  • Không điều chỉnh liều.

Trọng lượng cơ thể:

  • Không điều chỉnh liều.
  • Đối với bệnh nhân nhi, liều lượng được xác định dựa trên trọng lượng cơ thể.

Giới tính:

  • Không điều chỉnh liều.

Bệnh nhân đang điều trị sốc điện chuyển nhịp:

  • Rivaroxaban có thể được bắt đầu hoặc tiếp tục ở những bệnh nhân cần sốc điện chuyển nhịp.
  • Đối với bệnh nhân chuyển nhịp dựa vào siêu âm qua thực quản (TTE) mà không được điều trị kháng đông trước đó, rivaroxaban nên được bắt đầu ít nhất 4 giờ trước chuyển nhịp để đảm bảo hiệu quả kháng đông đầy đủ. Nên tìm hiểu xem bệnh nhân có sử dụng rivaroxaban như trong đơn thuốc trước khi chuyển nhịp hay không cho tất cả các bệnh nhân. Việc quyết định khởi đầu và liệu trình điều trị nên được dựa vào các hướng dẫn điều trị kháng đông ở bệnh nhân chuyển nhịp.

Bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim đã trải qua PCI (can thiệp mạch vành qua da) với đặt stent:

  • Có ít kinh nghiệm về việc giảm liều 15 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày (hoặc 10 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày cho bệnh nhân suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin 30 - 49 ml/phút) khi kết hợp với chất ức chế P2Y12 trong tối đa 12 tháng ở những bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim cần dùng kháng đông đường uống và trải qua PCI có đặt stent.

Bệnh nhân nhi:

  • An toàn và hiệu quả của rivaroxaban ở trẻ em từ 0 đến 18 tuổi chưa được xác định trong chỉ định phòng ngừa đột quy và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim. Không có dữ liệu có sẵn. Dó đó không khuyến cáo sử dụng thuốc cho trẻ em dưới 18 tuổi với các chỉ định khác ngoài điều trị huyết khối tĩnh mạch (VTE) và phòng ngừa tái phát VTE.

Cách dùng

Người lớn:

  • Thuốc dùng đường uống.
  • Uống thuốc cùng với thức ăn.

Nghiền nát viên thuốc:

  • Đối với những bênh nhân không thể nuốt cả viên, có thể nghiền nát viên nén rivaroxaban và hòa với nước hoặc trộn với táo xay nhuyễn ngay trước khi sử dụng và uống. Uống rivaroxaban 15 mg hoặc 20 mg sau khi nghiền nát ngay trước khi ăn.
  • Viên nén rivaroxaban đã được nghiền nát cũng có thể được đưa qua ống thông dạ dày sau khi đã xác nhận đúng vị trí đặt ống vào dạ dày. Viên nén đã được nghiền nát nên được dùng với một lượng nhỏ nước qua ống thông dạ dày, sau đó phải rửa sạch bằng nước. Sau khi viên rivaroxaban 15 mg hoặc 20 mg đã được nghiền nát, nên cho ăn ngay qua đường ruột (xem mục Đặc tính dược động học).

Trẻ em và thanh thiếu niên nặng từ 30 kg đến 50 kg:

  • Rivaroxaban được dùng bằng đường uống.
  • Bệnh nhân nên uống viên thuốc với chất lỏng. Nên được dùng cùng với thức ăn. Các viên thuốc nên được uống cách nhau khoảng 24 giờ.
  • Trong trường hợp bệnh nhân nhổ ngay liều thuốc hoặc nôn ra trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc thì nên uống một liều mới. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân nôn quá 30 phút sau khi uống thì không nên uống lại liều đó và phải dùng liều tiếp theo theo thời gian bác sỹ kê đơn.
  • Không được chia nhỏ viên thuốc nhằm mục đích dùng liều ít hơn 1 viên.

Nghiền nát viên thuốc:

  • Đối với những bệnh nhân không thể nuốt cả viên, viên Rivaroxaban có thể được nghiền nát và hòa với nước hoặc trộn với táo xay nhuyễn ngay trước khi sử dụng và uống.
  • Có thể cho viên thuốc đã được nghiền nát qua ống thông mũi dạ dày hoặc ống thông dạ dày.

Quá liều

  • Các trường hợp quá liều lên đến 1.960 mg đã được báo cáo. Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận các biến chứng chảy máu hoặc các phản ứng bất lợi khác (xem mục "Xử trí chảy máu”. Do hấp thu hạn chế, dự kiến sẽ có một hiệu ứng trần mà không tăng nồng độ trung bình trong huyết tương ở liều siêu trị liệu 50mg rivaroxaban hoặc cao hơn.
  • Hiện có một loại thuốc hóa giải đặc hiệu (andexanet alfa) đối kháng tác dụng dược lực học của rivaroxaban.
  • Có thể cân nhắc sử dụng than hoạt để giảm hấp thu trong trường hợp quá liều rivaroxaban.

Xử trí chảy máu:

  • Nếu biến chứng chảy máu xảy ra ở bệnh nhân đang dùng rivaroxaban, nên trì hoãn việc dùng rivaroxaban tiếp theo hoặc ngừng điều trị khi thích hợp. Rivaroxaban có thời gian bán thải khoảng 5 đến 13 giờ. Xử trí tùy theo cá nhân dựa trên mức độ nghiêm trọng và vị trí xuất huyết. Có thể điều trị triệu chứng khi cần thiết, chẳng hạn như băng ép cơ học (ví dụ như chảy máu cam nặng), cầm máu bằng phẫu thuật với các thủ thuật kiểm soát chảy máu, bù dịch và hỗ trợ huyết động, các sản phẩm máu (hồng cầu lắng hoặc huyết tương đông lạnh tươi, tùy thuộc vào tình trạng thiếu máu hoặc rối loạn đông máu kèm theo) hoặc tiểu cầu.
  • Nếu không thể kiểm soát chảy máu bằng các biện pháp trên, có thể cân nhắc hoặc dùng thuốc hóa giải đặc hiệu ức chế tác nhân Xa (andexanet alfa) đối kháng tác dụng dược lực học của rivaroxaban, hoặc một thuốc đông máu cụ thể, chẳng hạn như phức hợp prothrombin cô đặc (PCC), phức hợp prothrombin cô đặc được hoạt hóa (APCC) hoặc yếu tố tái tổ hợp Vlla (r-FVIla). Tuy nhiên, hiện có rất ít kinh nghiệm lâm sàng về việc sử dụng các sản phẩm thuốc này ở những người dùng rivaroxaban. Khuyến cáo cũng dựa trên dữ liệu phi lâm sàng hạn chế. Việc định lượng lại yếu tố Vlla tái tổ hợp sẽ được cân nhắc và chuẩn độ tùy thuộc vào tình trạng cải thiện chảy máu. Tùy thuộc vào tình trạng sẵn có của địa phương, nên tham khảo ý kiến của chuyên gia đông máu trong trường hợp chảy máu nhiều.
  • Protamin sulphat và vitamin K được cho là không ảnh hưởng đến hoạt tính chống đông máu của rivaroxaban. Có ít kinh nghiệm với acid tranexamic và không có kinh nghiệm với acid aminocaproic và aprotinin ở những người dùng rivaroxaban. Không có cơ sở lý luận khoa học về lợi ích cũng như kinh nghiệm về việc sử dụng desmopressin cầm máu toàn thân ở những người dùng rivaroxaban. Do tính liên kết cao với protein huyết tương, rivaroxaban không được cho là có thể thẩm tách được.

Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)

  • Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
  • Bệnh nhân chảy máu đáng kể trên lâm sàng.
  • Tổn thương hoặc tình trạng được coi là có nguy cơ đáng kể dẫn đến chảy máu nghiêm trọng có thể bao gồm đang hoặc mới loét đường tiêu hóa, sự hiện diện của khối u ác tính có nguy cơ chảy máu cao, mới chấn thương não hoặc cột sống, phẫu thuật não, cột sống hoặc nhãn khoa, mới xuất huyết nội sọ, giãn tĩnh mạch thực quản đã biết hoặc nghi ngờ, dị dạng động tĩnh mạch, phình mạch hoặc bất thường mạch máu nội tủy hoặc trong não.
  • Điều trị đồng thời với thuốc chống đông máu khác, ví dụ: Heparin không phân đoạn (UFH), heparin trọng lượng phân tử thấp (enoxaparin, dalteparin,...), dẫn xuất heparin (fondaparinux,...), thuốc chống đông đường uống (warfarin, dabigatran etexilate, apixaban,...) trừ những trường hợp chuyển đổi liệu pháp chống đông máu cụ thể hoặc khi UFH được dùng với liều lượng cần thiết để duy trì mở tĩnh mạch trung tâm hoặc đặt catheter động mạch.
  • Bệnh gan liên quan đến rối loạn đông máu và nguy cơ chảy máu liên quan về mặt lâm sàng bao gồm bệnh nhân xơ gan Child Pugh B và C.
  • Phụ nữ mang thai và cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)

Vui lòng xem thêm các thông tin về "Tóm tắt hồ sơ tính an toàn" trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.

Bảng danh sách các phản ứng có hại:

Tần suất của các phản ứng có hại được báo cáo với rivaroxaban được tóm tắt trong bảng dưới đây theo nhóm cơ quan hệ thống (trong MedDRA) và theo tần suất.

Tần suất được định nghĩa là: Rất phổ biến (≥ 1/10); phổ biến (≥ 1/100 đến < 1/10); không phổ biến (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000); không được biết (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn).

Tất cả các phản ứng có hại được báo cáo ở bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng pha III hoặc thông qua việc sử dụng thuốc sau khi đưa ra thị trường * và trong 2 nghiên cứu pha II và 2 nghiên cứu pha III ở bệnh nhân trẻ em.

Phổ biến Không phổ biến Hiếm Rất hiếm Không được biết
Rối loạn hệ thống bạch huyết và máu:
Thiếu máu (bao gồm các thông số phòng thí nghiệm tương ứng) Tăng tiểu cầu (bao gồm số lượng tiểu cầu tăng)A, giảm tiểu cầu
Rối loạn hệ thống miễn dịch:
Phản ứng dị ứng, viêm da dị ứng, phù mạch và phù dị ứng Phản ứng phản vệ bao gồm cả sốc phản vệ
Rối loạn hệ thần kinh:
Chóng mặt, nhức đầu Xuất huyết não và nội sọ, ngất
Rối loạn mắt:
Xuất huyết mắt (bao gồm xuất huyết kết mạc)
Rối loạn tim:
Nhịp tim nhanh
Rối loạn mạch máu:
Hạ huyết áp, tụ máu
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
Chảy máu cam, ho ra máu
Rối loạn tiêu hóa
Chảy máu nướu răng, xuất huyết đường tiêu hóa (bao gồm cả xuất huyết trực tràng), đau bụng và khó tiêu, buồn nôn, táo bón, tiêu chảyA, nôn mửaA Khô miệng
Rối loạn gan mật:
Tăng transaminase Suy gan, tăng bilirubin, tăng phosphatase kiềm trong máu, tăng GGTA Vàng da, bilirubin liên hợp tăng (có hoặc không đồng thời tăng ALT), ứ mật, viêm gan (bao gồm tổn thương tế bào gan)
Rối loạn da và mô dưới da:
Ngứa (bao gồm các trường hợp ngứa toàn thân không phổ biến), phát ban, bầm máu, xuất huyết da và dưới da Mề đay Hội chứng Stevens-Johnson/Nhiễm độc hoại tử biểu bì, hội chứng DRESS
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
Đau ở các chiA Tụ máu khớp Xuất huyết cơ Hội chứng chèn ép khoang thứ phát sau chảy máu
Rối loạn thận và tiết niệu:
Xuất huyết đường tiết niệu (bao gồm đái ra máu và rong kinhB), suy thận (bao gồm creatinin máu tăng, urê máu tăng) Suy thận/suy thận cấp thứ phát sau chảy máu đủ để gây giảm tưới máu
Các rối loạn chung và tình trạng khu vực sử dụng:
SốtA, phù ngoại vi, giảm sức mạnh và năng lượng chung (bao gồm cả mệt mỏi và suy nhược) Cảm thấy không khỏe (bao gồm cả khó chịu) Phù cục bộA
Kiểm tra:

Tăng LDHA,

Tăng lipaseA,

Tăng amylaseA

Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng:
Xuất huyết sau phẫu thuật (bao gồm thiếu máu sau phẫu thuật và xuất huyết vết thương), vết bầm, tiết dịch vết thươngA Pseudoaneurysm mạch máuC

Quan sát thấy trong phòng ngừa VTE ở bệnh nhân người lớn trải qua phẫu thuật thay thế khớp gối hoặc khớp háng.

Quan sát thấy trong điều trị DVT, PE và ngăn ngừa tái phát rất phổ biến ở phụ nữ <55 tuổi.

Quan sát thấy không phổ biến trong phòng ngừa biến cổ huyết khối ở bệnh nhân sau ACS (sau can thiệp mạch vành qua da).

Một cách tiếp cận chọn lọc được xác định trước để thu thập thông tin về các phản ứng bất lợi đã được áp dụng trong các nghiên cứu chọn lọc pha III. Tỷ lệ phản ứng bất lợi không tăng và không có phản ứng bất lợi mới nào được xác định sau khi phân tích các nghiên cứu này.

Mô tả các phản ứng bất lợi được chọn:

  • Do phương thức tác dụng dược lý, việc sử dụng rivaroxaban có thể làm tăng nguy cơ chảy máu ẩn hoặc chảy máu quá mức từ bất kỳ mô hoặc cơ quan nào có thể dẫn đến thiếu máu sau xuất huyết. Các dấu hiệu, triệu chứng và mức độ nghiêm trọng (bao gồm cả dẫn đến tử vong) sẽ khác nhau tùy theo vị trí và mức độ chảy máu và/hoặc thiếu máu (xem "Xử trí chảy máu” trong mục Quá liều). Trong các nghiên cứu lâm sàng, chảy máu niêm mạc (tức là chảy máu cam, lợi, đường tiêu hóa, đường tiết niệu bao gồm chảy máu âm đạo bất thường hoặc tăng kinh nguyệt) và thiếu máu được thấy thường xuyên hơn khi điều trị rivaroxaban lâu dài so với điều trị VKA. Do đó, ngoài việc theo dõi lâm sàng đầy đủ, cần làm xét nghiệm hemoglobin/hematocrit để phát hiện chảy máu ẩn và định lượng mức độ chảy máu quá mức liên quan trên lâm sàng. Nguy cơ chảy máu có thể tăng lên ở một số nhóm bệnh nhân nhất định, ví dụ: Những bệnh nhân bị tăng huyết áp động mạch nặng không kiểm soát được và/hoặc đang điều trị các bệnh đồng thời có ảnh hưởng đến quá trình cầm máu. Rong kinh có thể nhiều hơn và/hoặc kéo dài. Các biến chứng xuất huyết có thể biểu hiện như suy nhược, xanh xao, chóng mặt, nhức đầu hoặc sưng tấy không rõ nguyên nhân, khó thở và sốc không rõ nguyên nhân. Trong một số trường hợp do hậu quả của thiếu máu, các triệu chứng của thiếu máu cục bộ ở tim như đau ngực hoặc đau thắt ngực đã được quan sát thấy.
  • Các biến chứng đã biết thứ phát sau chảy máu nặng như hội chứng chèn ép khoang và suy thận do giảm tưới máu đã được báo cáo đối với rivaroxaban. Do đó, khả năng xuất huyết phải được xem xét khi đánh giá tình trạng bệnh ở bệnh nhân kháng đông.

Bệnh nhân nhi:

Điều trị VTE và ngăn ngừa tái phát VTE:

  • Đánh giá độ an toàn ở trẻ em và thanh thiếu niên dựa trên dữ liệu an toàn từ hai nghiên cứu nhãn mở có kiểm soát hoạt chất giai đoạn II và một nghiên cứu giai đoạn IlI ở bệnh nhi từ sơ sinh đến dưới 18 tuổi. Các phát hiện về tính an toàn nhìn chung tương tự nhau giữa rivaroxaban và thuốc so sánh ở các nhóm tuổi trẻ em khác nhau. Nhìn chung, đặc điểm an toàn ở 412 trẻ em và thanh thiếu niên được điều trị bằng rivaroxaban tương tự như đặc điểm quan sát được ở người lớn và nhất quán giữa các phân nhóm tuổi, mặc dù việc đánh giá còn hạn chế ở số lượng nhỏ bệnh nhân.
  • Ở bệnh nhi, nhức đầu (rất phổ biến, 16,7%), sốt (rất phổ biến, 11,7%), chảy máu cam (rất phổ biến, 11,2%), nôn mửa (rất phổ biến, 10,7%), nhịp tim nhanh (thường gặp, 1,5%), tăng bilirubin (phổ biến, 1,5%) và bilirubin liên hợp tăng (không phổ biến, 0,7%) được báo cáo thường xuyên hơn so với người lớn. Phù hợp với dân số trưởng thành, rong kinh được quan sát thấy ở 6,6% (phổ biến) thanh thiếu niên nữ sau khi có kinh. Tình trạng giảm tiểu cầu được quan sát sau khi đưa thuốc ra thị trường ở người trưởng thành là phổ biến (4,6%) trong các nghiên cứu lâm sàng ở trẻ em. Các phản ứng bất lợi của thuốc ở bệnh nhi chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình.

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Tương tác với các thuốc khác

Mức độ tương tác ở trẻ em chưa được biết. Dữ liệu tương tác được đề cập dưới đây được thu thập ở người lớn và cần tính đến các cảnh báo trong mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc đối với trẻ em.

Chất ức chế CYP3A4 và P-gp:

  • Dùng đồng thời rivaroxaban với ketoconazole (400 mg x 1 lần/ngày) hoặc ritonavir (600 mg x 2 lần/ngày) dẫn đến AUC trung bình của rivaroxaban tăng 2,6 lần/2,5 lần và Cmax trung bình của rivaroxaban tăng 1,7 lần/1,6 lần, gia tăng đáng kể tác dụng dược lực học, có thể dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu. Do đó, không khuyến cáo sử dụng rivaroxaban ở những bệnh nhân đang điều trị toàn thân đồng thời với thuốc kháng nấm azol như ketoconazol, itraconazol, voriconazol và posaconazol hoặc các chất ức chế protease HIV. Các hoạt chất này là chất ức chế mạnh cả CYP3A4 và P-gp.
  • Các hoạt chất chỉ ức chế mạnh một trong các con đường thải trừ rivaroxaban, hoặc CYP3A4 hoặc P-gp, được cho là sẽ làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương ở mức độ thấp hơn. Ví dụ, clarithromycin (500 mg x 2 lần/ngày), được coi là chất ức chế CYP3A4 mạnh và chất ức chế P-gp trung bình, dẫn đến tăng 1,5 lần AUC trung bình và tăng 1,4 lần Cmax trung bình của rivaroxaban. Tương tác với clarithromycin có thể không liên quan về mặt lâm sàng ở hầu hết bệnh nhân nhưng có thể có ý nghĩa ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. (Đối với bệnh nhân suy thận: Xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
  • Erythromycin (500 mg x 3 lần/ngày), ức chế vừa phải CYP3A4 và P-gp, dẫn đến tăng 1,3 lần AUC và Cmax trung bình của rivaroxaban.
  • Tương tác với erythromycin có thế không liên quan về mặt lậm sàng ở hầu hết bệnh nhân nhưng có thể có ý nghĩa ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.
  • Ở những bệnh nhân suy thận nhẹ, erythromycin (500 mg x 3 lần/ngày) làm tăng 1,8 lần AUC trung bình và tăng 1,6 lần Cmax trung bình của rivaroxaban khi so sánh với những người có chức năng thận bình thường. Ở những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình, erythromycin làm tăng AUC trung bình của rivaroxaban gấp 2 lần và Cmax của rivaroxaban tăng gấp 1,6 lần so với những người có chức năng thận bình thường. Tác dụng của erythromycin phụ thuộc vào tình trạng suy thận (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
  • Fluconazol (400 mg x 1 lần/ngày), được coi là chất ức chế CYP3A4 vừa phải, làm tăng 1,4 lần AUC trung bình và tăng 1,3 lần Cmax trung bình của rivaroxaban. Tương tác với fluconazol có thể không liên quan về mặt lâm sàng ở hầu hết bệnh nhân nhưng có thể có ý nghĩa ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. (Đối với bệnh nhân suy thận: Xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
  • Do dữ liệu lâm sàng hạn chế với dronedaron, nên tránh dùng đồng thời với rivaroxaban.

Thuốc chống đông máu:

  • Sau khi dùng kết hợp enoxaparin (40 mg liều duy nhất) với rivaroxaban (10 mg liều duy nhất), tác dụng phụ trên hoạt tính của kháng yếu tố Xa đã được quan sát thấy mà không có bất kỳ tác dụng bổ sung nào trên các xét nghiệm đông máu (PT, aPTT). Enoxaparin không ảnh hưởng đến dược động học của rivaroxaban.
  • Do nguy cơ chảy máu tăng cao, cần thận trọng nếu bệnh nhân được điều trị đồng thời với bất kỳ thuốc chống đông máu nào khác.

NSAIDs/chất ức chế kết tập tiểu cầu:

  • Không quan sát thấy sự kéo dài thời gian chảy máu có liên quan về mặt lâm sàng sau khi dùng đồng thời rivaroxaban (15 mg) và 500 mg naproxen. Tuy nhiên, có thể có những người có phản ứng dược lực học rõ rệt hơn.
  • Không quan sát thấy tương tác dược động học hoặc dược lực học có ý nghĩa lâm sàng khi rivaroxaban được dùng đồng thời với 500 mg acid acetylsalicylic.
  • Clopidogrel (liều khởi đầu 300 mg sau đó là liều duy trì 75 mg) không cho thấy tương tác dược động học với rivaroxaban (15 mg) nhưng sự gia tăng thời gian chảy máu có liên quan được quan sát thấy ở một nhóm nhỏ bệnh nhân không liên quan đến kết tập tiểu cầu, P-selectin hoặc mức độ thụ thể GPIIb/Illa.
  • Cần thận trong nếu bệnh nhân được điều trị đồng thời với NSAID (bao gồm cả acid acetylsalicylic) và chất ức chế kết tập tiểu cầu vì những sản phẩm thuốc này thường làm tăng nguy cơ chảy máu (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)

SSRI/SNRI:

  • Cũng như các thuốc chống đông máu khác, có thể có khả năng bệnh nhân bị tăng nguy cơ chảy máu trong trường hợp sử dụng đồng thời với SSRI hoặc SNRI do tác dụng của chúng trên tiểu cầu đã được báo cáo. Khi sử dụng đồng thời rivaroxaban trong nghiên cứu lâm sàng, tỷ lệ xuất huyết nặng hoặc không liên quan đến lâm sàng cao hơn về số lượng đã được quan sát thấy ở tất cả các nhóm điều trị.

Warfarin:

  • Chuyển đổi bệnh nhân từ sử dụng thuốc đối kháng vitamin K warfarin (INR 2,0 đến 3,0) sang rivaroxaban (20 mg) hoặc từ rivaroxaban (20 mg) sang warfarin (INR 2,0 đến 3,0) làm tăng thời gian prothrombin/INR (Neoplastin) nhiều hơn so với bổ sung (có thể quan sát thấy các giá trị INR riêng lẻ lên đến 12), trong khi đối với những tác động trên aPTT thì sự ức chế hoạt động của yếu tố Xa và tiềm năng thrombin nội sinh có tác dụng cộng thêm.
  • Nếu muốn kiểm tra tác dụng dược lực học của rivaroxaban trong giai đoạn chuyển đổi, có thể sử dụng hoạt tính kháng yếu tố Xa, PiCT, và Heptest vì những thử nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi warfarin. Vào ngày thứ tư sau liều warfarin cuối cùng, tất cả các xét nghiệm (bao gồm PT, aPTT, sự ức chế của hoạt tính của yếu tố Xa và ETP) chỉ phản ánh tác dụng của rivaroxaban.
  • Nếu muốn kiểm tra tác dụng dược lực học của warfarin trong thời gian chuyển đổi, việc đo lường INR có thể được sử dụng tại Ctrough của rivaroxaban (24 giờ sau khi uống liều rivaroxaban trước đó) vì thử nghiệm này bị ảnh hưởng rất ít bởi rivaroxaban tại thời điểm này.
  • Không có tương tác dược động học nào được ghi nhận giữa warfarin và rivaroxaban.

Chất cảm ứng CYP3A4:

  • Sử dụng đồng thời rivaroxaban với rifampicin là chất gây cảm ứng CYP3A4 mạnh dẫn đến giảm gần 50% AUC trung bình của rivaroxaban, song song với việc giảm tác dụng dược lực học của nó. Việc sử dụng đồng thời rivaroxaban với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh khác (ví dụ như phenytoin, carbamazepin, phenobarbital hoặc St. John's Wort (Hypericum perforatum)) cũng có thể dẫn đến giảm nồng độ rivaroxaban trong huyết tương. Do đó, nên tránh sử dụng đồng thời các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh trừ khi bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của huyết khối.

Các liệu pháp đồng thời khác:

  • Không quan sát thấy tương tác dược động học hoặc dược lực học có ý nghĩa lâm sàng nào khi rivaroxaban được dùng đồng thời với midazolam (chất nền của CYP3A4), digoxin (chất nền của P-gp), atorvastatin (chất nền của CYP3A4 và P-gp) hoặc omeprazole (chất ức chế bơm proton). Rivaroxaban không ức chế cũng không gây ra bất kỳ đồng dạng CYP chính nào như CYP3A4.
  • Không quan sát thấy tương tác có liên quan về mặt lâm sàng với thức ăn.

Thông số phòng thí nghiệm:

  • Các thông số đông máu (ví dụ: PT, aPTT, HepTest) bị ảnh hưởng như đã biết do phương thức hoạt động của rivaroxaban.

Lưu ý khi sử dụng (Cảnh báo và thận trọng)

Theo dõi lâm sàng phù hợp với thực hành chống đông máu được khuyến cáo trong suốt thời gian điều trị.

Nguy cơ xuất huyết:

  • Cũng như các thuốc chống đông máu khác, bệnh nhân dùng rivaroxaban phải được quan sát cẩn thận các dấu hiệu chảy máu, thận trọng trong các tình trạng tăng nguy cơ xuất huyết. Nên ngừng dùng rivaroxaban nếu xảy ra xuất huyết nặng.
  • Trong các nghiên cứu lâm sàng, chảy máu niêm mạc (tức là chảy máu cam, lợi, đường tiêu hóa, đường tiết niệu bao gồm chảy máu âm đạo bất thường hoặc tăng chảy máu trong kỳ kinh nguyệt) và thiếu máu được thấy thường xuyên hơn khi điều trị rivaroxaban lâu dài so với điều trị VKA. Do đó, ngoài việc theo dõi lâm sàng đầy đủ, có thể xét nghiệm hemoglobin/hematocrit để phát hiện chảy máu ẩn và định lượng mức độ liên quan lâm sàng của chảy máu quá mức.
  • Một số nhóm bệnh nhân, như được trình bày dưới đây, có nguy cơ chảy máu cao hơn. Những bệnh nhân này phải được theo dõi cẩn thận về các dấu hiệu và triệu chứng của biến chứng chảy máu và thiếu máu sau khi bắt đầu điều trị.
  • Giảm huyết sắc tố hoặc huyết áp không rõ nguyên nhân cần phải tìm hiểu vị trí chảy máu.
  • Mặc dù điều trị bằng rivaroxaban không yêu cầu theo dõi nồng độ thuốc thường xuyên, nhưng nồng độ rivaroxaban được đo bằng xét nghiệm định lượng kháng yếu tố Xa đã hiệu chuẩn có thế hữu ích trong các trường hợp ngoại lệ mà sự am hiểu về nồng độ rivaroxaban có thể giúp cho những quyết định lâm sàng, ví dụ: quá liều và phẫu thuật cấp cứu.
  • Bệnh nhân nhi: Có dữ liệu hạn chế ở trẻ em có nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương bị huyết khối tĩnh mạch não và xoang. Cần đánh giá cẩn thận nguy cơ chảy máu trước và trong khi điều trị bằng rivaroxaban.

Suy thận:

  • Ở' những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút), nồng độ rivaroxaban trong huyết tương có thể tăng lên đáng kể (trung bình 1,6 lần) và có thể dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu. Thận trọng khi dùng rivaroxaban cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút. Không khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 15 ml/phút.
  • Rivaroxaban nên được sử dụng thận trọng cho bệnh nhân suy thận đang dùng các thuốc khác làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương.
  • Rivaroxaban không được khuyến cáo ở trẻ em và thanh thiếu niên bị suy thận vừa hoặc nặng (tốc độ lọc cầu thận < 50 mL/phút/1,73 m2), vì không có dữ liệu lâm sàng.

Tương tác với các thuốc khác:

  • Việc sử dụng rivaroxaban không được khuyến cáo ở những bệnh nhân đang điều trị đồng thời với thuốc kháng nấm azole (như ketoconazol, itraconazol, voriconazol và posaconazol) hoặc thuốc ức chế protease HIV (ví dụ: ritonavir). Các hoạt chất này là chất ức chế mạnh cả CYP3A4 và P-gp, do đó có thể làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương ở mức độ có liên quan về lâm sàng (trung bình 2,6 lần) và có thể dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu.
  • Cần thận trọng nếu bệnh nhân được điều trị đồng thời với các thuốc ảnh hưởng đến quá trình cầm máu như thuốc chống viêm không steroid (NSAID), axit acetylsalicylic (ASA) và thuốc ức chế kết tập tiểu cầu hoặc thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin norepinephrine (SNRI). Đối với những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh loét đường tiêu hóa, có thể cân nhắc điều trị dự phòng thích hợp.

Các yếu tố nguy cợ xuất huyết khác:

Cũng như các thuốc chống huyết khối khác, rivaroxaban không được khuyến cáo ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao như:

  • Rối loạn chảy máu bẩm sinh hoặc mắc phải.
  • Tăng huyết áp động mạch nghiêm trọng không kiểm soát được.
  • Bệnh đường tiêu hóa khác không có vết loét hoạt động nhưng có thể tiềm tàng dẫn đến biến chứng chảy máu (ví dụ như bệnh viêm ruột, viêm thực quản, viêm dạ dày và bệnh trào ngược dạ dày thực quản).
  • Bệnh võng mạc mạch máu.
  • Giãn phế quản hoặc tiền sử chảy máu phổi.

Bệnh nhân ung thư:

  • Bệnh nhân mắc bệnh ác tính có thể đồng thời có nguy cơ chảy máu và huyết khối cao hơn. Lợi ích riêng lẻ của việc điều trị chống huyết khối nên được cân nhắc với nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân mắc ung thư ác tính phụ thuộc vào vị trí của khối u, liệu pháp chống ung thư và giai đoạn bệnh. Các khối u nằm ở đường tiêu hóa hoặc đường sinh dục có liên quan đến nguy cơ tăng chảy máu trong suốt quá trình điều trị bằng rivaroxaban.
  • Những bệnh nhân có khối u ác tính có nguy cơ chảy máu cao, chống chỉ định sử dụng rivaroxaban.

Bệnh nhân có van nhân tạo

  • Rivaroxaban không nên được sử dụng để dự phòng huyết khối ở những bệnh nhân vừa trải qua thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVR). Tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân có van tim nhân tạo; do đó, không có dữ liệu nào chứng minh rằng rivaroxaban có thể chống đông máu thích hợp cho nhóm bệnh nhân này. Không khuyến cáo điều trị bằng rivaroxaban cho những bệnh nhân này.

Bệnh nhân mắc hội chứng kháng phospholipid:

  • Không khuyến cáo sử dụng thuốc chống đông máu đường uống tác dụng trực tiếp (DOAC) bao gồm rivaroxaban cho những bệnh e nhân có tiền sử huyết khối được chẩn đoán mắc hội chứng kháng phospholipid. Đặc biệt đối với những bệnh nhân dương tính bộ ba (đối với chất chống đông máu dạng lupus, kháng thể kháng cardiolipin và kháng thể kháng beta 2-glycoprotein I), điều trị bằng DOAC có thể làm tăng tỷ lệ biến cố huyết khối tái phát so với điều trị bằng thuốc kháng vitamin K.

Bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị PCI có đặt stent:

  • Dữ liệu lâm sàng có sẵn từ một nghiên cứu can thiệp với mục tiêu chính là đánh giá mức độ an toàn ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim đã trải qua PCI có đặt stent. Dữ liệu về hiệu quả trong nhóm này còn hạn chế. Không có dữ liệu nào về những bệnh nhân này có tiền sử đột quy/cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA).

Bệnh nhân PE không ổn định về huyết động hoặc bệnh nhân cần tiêu huyết khối hoặc phẫu thuật lấy huyết khối ở phổi:

  • Rivaroxaban không được khuyến cáo thay thế cho heparin không phân đoạn ở bệnh nhân thuyên tắc phổi không ổn định về huyết động hoặc có thể được làm tan huyết khối hoặc phẫu thuật lấy huyết khối ở phổi vì chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban trong các tình huống lâm sàng này.

Gây tê hoặc chọc dò tủy sống/ngoài màng cứng:

  • Khi gây tê thần kinh (gây tê tủy sống/ngoài màng cứng) hoặc chọc dò tủy sống/ngoài màng cứng, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc chống huyết khối để ngăn ngừa biến chứng huyết khối có nguy cơ phát triển tụ máu ngoài màng cứng hoặc tủy sống, có thể dẫn đến liệt lâu dài hoặc vĩnh viễn. Nguy cơ xảy ra các biến cố này có thể tăng lên do sử dụng catheter gây tê ngoài màng cứng sau phẫu thuật hoặc sử dụng đồng thời các thuốc có ảnh hưởng đến quá trình cầm máu. Nguy cơ cũng có thể tăng lên do chấn thương hoặc nhiều lần chọc dò ngoài màng cứng hoặc tủy sống. Bệnh nhân phải được theo dõi thường xuyên về các dấu hiệu và triệu chứng suy giảm thần kinh (ví dụ như tê hoặc yếu chân, rối loạn chức năng ruột hoặc bàng quang). Nếu tốn thương thần kinh được ghi nhận, cần chẩn đoán và điều trị khẩn cấp. Trước khi can thiệp thần kinh, bác sĩ nên cân nhắc giữa lợi ích tiềm năng so với nguy cơ ở bệnh nhân điều trị chống đông máu hoặc bệnh nhân được điều trị dự phòng huyết khối bằng thuốc chống động máu.
  • Để giảm nguy cơ chảy máu có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời rivaroxaban và gây tê trục thần kinh (ngoài màng cứng/tủy sống) hoặc chọc dò tủy sống, hãy xem xét đặc điểm dược động học của rivaroxaban. Đặt hoặc rút catheter ngoài màng cứng hoặc chọc dò thắt lưng được thực hiện tốt nhất khi tác dụng chống đông máu của rivaroxaban được đánh giá là thấp (xem mục Đặc tính dược lực học).
  • Tuy nhiên, thời điểm chính xác để đạt được hiệu quả chống đông đủ thấp ở mỗi bệnh nhân vẫn chưa được biết.
  • Để rút catheter ngoài màng cứng và dựa trên đặc điểm dược động học chung, phải cách ít nhất 2 lần thời gian bán hủy, tức là ít nhất 18 giờ ở bệnh nhân trẻ và 26 giờ ở bệnh nhân cao tuổi, sau lần dùng rivaroxaban cuối cùng.
  • Sau khi rút ống thông, phải cách ít nhất 6 giờ trước khi dùng liều rivaroxaban tiếp theo.
  • Nếu có chấn thương do chọc dò, trì hoãn sử dụng rivaroxaban trong 24 giờ.
  • Không có dữ liệu về thời điểm đặt hoặc tháo ống thông trục thần kinh ở trẻ em khi dùng rivaroxaban. Trong những trường hợp như vậy, hãy ngừng dùng rivaroxaban và xem xét dùng thuốc chống đông máu đường tiêm tác dụng ngắn.

Khuyến cáo về liều lượng trước và sau khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn và can thiệp phẫu thuật:

  • Nếu cần phải tiến hành một thủ thuật xâm lấn hoặc can thiệp phẫu thuật, nên ngừng dùng rivaroxaban ít nhất 24 giờ trước khi can thiệp, nếu có thể và dựa trên đánh giá lâm sàng của bác sĩ.
  • Nếu không thể trì hoãn thủ thuật, nên đánh giá tình trạng tăng nguy cơ chảy máu so với mức độ khẩn cấp của can thiệp.
  • Rivaroxaban nên được bắt đầu lại càng sớm càng tốt sau khi tiến hành thủ thuật xâm lấn hoặc can thiệp phẫu thuật với điều kiện tình trạng lâm sàng cho phép và đã được cầm máu đầy đủ theo quyết định của bác sĩ điều trị.

Người già:

  • Tuổi càng cao có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.

Phản ứng trên da:

  • Các phản ứng nghiêm trọng trên da, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson/hoại tử biểu bì nhiễm độc và hội chứng DRESS, đã được báo cáo trong quá trình giám sát sau lưu hành liên quan đến việc sử dụng rivaroxaban.
  • Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất gặp phải những phản ứng sớm như sau trong quá trình điều trị: Khởi phát của phản ứng xảy ra ở phần lớn các trường hợp trong những tuần đầu điều trị. Nên ngừng dùng rivaroxaban khi phản ứng trên da trở nên nghiêm trọng (ví dụ: Lan rộng, dữ dội và/hoặc phồng rộp), hoặc bất kỳ dấu hiệu mẫn cảm nào khác kèm theo tổn thương niêm mạc.

Thông tin về tá dược:

  • Thuốc có chứa lactose. Không nên dùng thuốc cho các bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase toàn phần hoặc kém hấp thu glucose-galactose.
  • Thuốc này có chứa dưới 1mmol (23 mg) natri trong mỗi viên, về cơ bản được xem như “không chứa natri".

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Phụ nữ mang thai:

  • Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính sinh sản. Do khả năng gây độc cho sinh sản, nguy cơ chảy máu nội tại và bằng chứng cho thấy rivaroxaban đi qua nhau thai, rivaroxaban bị chống chỉ định trong thời kỳ mang thai.
  • Phụ nữ có kế hoạch sinh con nên tránh mang thai trong khi điều trị bằng rivaroxaban.

Phụ nữ cho con bú:

  • Tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban chưa được xác định ở phụ nữ đang cho con bú. Dữ liệu từ động vật cho thấy rivaroxaban được tiết vào sữa. Do đó, rivaroxaban được chống chỉ định trong thời kỳ cho con bú (xem mục Chống chỉ định). Phải đưa ra quyết định ngừng cho con bú hay ngừng/bỏ điều trị.

Khả năng sinh sản:

  • Không có nghiên cứu cụ thể nào với rivaroxaban ở người được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Trong một nghiên cứu về khả năng sinh sản ở chuột đực và cái, không thấy ảnh hưởng nào.

Người lái xe và vận hành máy móc

  • Rivaroxaban có ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Các phản ứng có hại như ngất (tần suất: Không phổ biến) và chóng mặt (tần suất: Phố biến) đã được báo cáo. Những bệnh nhân gặp phải những phản ứng bất lợi này không nên lái xe hoặc sử dụng máy móc.

Bảo quản

  • Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
Xem thêm nội dung
Bình luận của bạn
Đánh giá của bạn:
*
*
*
 Captcha
Thuốc này được bán theo đơn của bác sĩ

Tại sao chọn chúng tôi

8 Triệu +

Chăm sóc hơn 8 triệu khách hàng Việt Nam.

2 Triệu +

Đã giao hơn 2 triệu đơn hàng đi toàn quốc

18.000 +

Đa dạng thuốc, thực phẩm bổ sung, dược mỹ phẩm.

100 +

Hơn 100 điểm bán và hệ thống liên kết trên toàn quốc

Hệ Thống Nhà Thuốc chosithuoc.com – Mua nhiều hơn – Giá tốt hơn – Tel: 0828 00 22 44 (8h00 – 21h00)
* Xem chi tiết ưu đãi. Các hạn chế được áp dụng. Giá cả, khuyến mãi và tính khả dụng có thể khác nhau tùy theo thời điểm và tại Parapharmacy.
© 2019 Hộ Kinh Doanh Nhà Thuốc Para Pharmacy. GPDKKD số 41N8151446 do Phòng Kế Hoạch & Tài Chính Tân Bình cấp ngày 01/06/2021. Địa chỉ: 114D Bạch Đằng, Phường 2, Quận Tân Bình, TP.HCM. Email: cskh@parapharmacy.vn.

Thiết kế website Webso.vn